Bảo tồn và Phát triển Tài nguyên Cây thuốc Việt Nam: Lộ trình từ “quy hoạch treo” đến “ngành kinh tế thảo dược” tỷ đô

Trong bối cảnh toàn cầu ngày càng chú trọng đến cây thuốc, sức khỏe tự nhiên và kinh tế xanh, Việt Nam, một quốc gia giàu đa dạng sinh học và văn hóa, đứng trước cơ hội lớn để kiến tạo một ngành kinh tế thảo dược trị giá hàng tỷ đô la. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tiềm năng khổng lồ này vẫn đang bị trì hoãn bởi sự thiếu nghiêm túc trong triển khai chính sách và những nhận thức thiên lệch đã tồn tại dai dẳng.

Kỳ vọng chính sách và hiện trạng

Nhận thức được vị thế chiến lược của dược liệu, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành khoảng 50 văn bản chủ trương, chính sách nhằm phát triển ngành này. Trong số các văn bản quan trọng đó, Quyết định số 1976/QĐ-TTg (Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030) được xem là khuôn khổ toàn diện nhất. Quy hoạch này đã xác định rõ tám vùng trồng tập trung các loài dược liệu có thế mạnh, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và sinh thái nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.

Bà con miền núi trồng cây thuốc
Bà con miền núi trồng cây thuốc

Theo quy hoạch 1976, các vùng sinh thái chính đã được phân loại chi tiết. Vùng núi cao có khí hậu á nhiệt đới, bao gồm Sa Pa (Lào Cai), Sìn Hồ (Lai Châu), Đồng Văn và Quản Bạ (Hà Giang), đã được nhận diện là nơi tập trung tới 413 loài cây thuốc. Vùng núi trung bình có khí hậu á nhiệt đới, như Bắc Hà (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La) và Đà Lạt (Lâm Đồng), là nơi phù hợp với 512 loài. Các vùng còn lại cũng được phân định rõ ràng: Vùng trung du miền núi Bắc Bộ (Bắc Giang, Yên Bái, Quảng Ninh, Lạng Sơn) với 16 loài; Vùng đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Nam Định và Thái Bình) với 12-20 loài; Vùng các tỉnh Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An) với 10 loài; Vùng Nam Trung Bộ (Quảng Nam, Khánh Hòa) với 10 loài; Vùng Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông) với 10 loài; và Vùng Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ (An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh) với 10 loài.

Nếu được triển khai đầy đủ, Quy hoạch 1976 dự kiến tổng diện tích trồng dược liệu đạt 28.300 ha, với 21.700 ha dành cho nhóm dược liệu bản địa (sản lượng 82.280 tấn) và 6.600 ha cho nhóm loài dược liệu nhập nội (sản lượng 30.950 tấn), đạt tổng sản lượng 113.230 tấn. Quan trọng hơn, quy hoạch này được kỳ vọng tạo ra giá trị bán lẻ lên tới khoảng 100.000 tỉ VNĐ mỗi năm, tương đương khoảng 4 tỉ USD. Ngoài ra, mục tiêu xây dựng năm vườn bảo tồn và phát triển cây thuốc quốc gia, đại diện cho các vùng sinh thái lớn như Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, cũng đã được đặt ra.

Tuy nhiên, Quy hoạch 1976 đã hết hiệu lực vào năm 2020 nhưng không có bất kỳ đánh giá hay tổng kết nào được công bố. Cùng với Quyết định 3657/QĐ-BYT năm 2019 về Danh mục 100 dược liệu có giá trị cao, các văn bản chính sách này vẫn tồn tại ở dạng “mong muốn” vì thiếu năng lực và tính nghiêm túc trong triển khai. Kết quả là, ngành dược liệu đang phải đối mặt với tình trạng “chết toàn tập”, nơi các văn bản chỉ dừng lại ở mức lý thuyết mà không có cơ chế trách nhiệm cụ thể đối với việc không triển khai.

Tư duy thiên lệch và khủng hoảng bảo tồn

Sự đình trệ của ngành dược liệu bắt nguồn từ một nhận thức chưa đầy đủ và tư duy thiên lệch. Nhiều người vẫn chỉ xem dược liệu là nguyên liệu để sản xuất thuốc. Trên thực tế, các sản phẩm từ cây thuốc phục vụ toàn bộ ngành Y tế, bao gồm cả mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, đồ uống chức năng, và cả trang thiết bị y tế. Việc hiểu chưa đầy đủ rằng phát triển dược liệu chỉ là “trồng cây thuốc” (tức định hướng sản xuất) đã dẫn đến hàng loạt sai lầm chiến lược.

Những người bảo tồn cây thuốc chè Hoa Vàng tại Lục Nam
Những người bảo tồn cây thuốc chè Hoa Vàng tại Lục Nam

Các doanh nghiệp lớn từng cố gắng đầu tư mạnh mẽ vào dược liệu như Bình Minh, Merap hay TH đều đã thất bại. Đặc điểm chung của những thất bại này là họ thường chọn các cây nhập nội hoặc các loài được coi là “thuốc bắc” và nhanh chóng bị cạnh tranh bởi dược liệu Trung Quốc. Ngược lại, những doanh nghiệp duy trì được hoạt động (như Traphaco, Nam Dược, Dược khoa, OPC) lại tập trung xây dựng chuỗi cung ứng chỉ phục vụ sản phẩm của riêng mình, ưu tiên các cây thuốc bản địa hoặc các loài không trực tiếp đối đầu với dược liệu nhập khẩu.

Chuỗi giá trị sản xuất hiện tại của Việt Nam đang rất yếu kém. Việc chọn cây sai lầm dẫn đến thua lỗ. Giống cây thuốc được sử dụng thường là nguyên thủy, dẫn đến năng suất thấp. Phương pháp trồng trọt lạc hậu (nông nghiệp 1.0 và 2.0) khiến giá thành cao và không thể cạnh tranh. Thiếu các tiêu chuẩn và khả năng truy xuất nguồn gốc đã tạo nên tình trạng nhập nhèm phổ biến. Quá trình chiết suất thường sơ sài, còn gọi là “nấu cháo”, khiến chất lượng không ổn định. Cuối cùng, việc tập trung vào sản phẩm thuốc đã khiến doanh nghiệp bị chèn ép bởi luật pháp phương Tây, và thương mại chỉ loanh quanh thị trường nội địa, dẫn đến tình trạng “trồng 1 ha bán cả năm không hết”.

Quảng cáo
Bà con miền núi trồng cây thuốc
Bà con miền núi trồng cây thuốc

Bên cạnh vấn đề sản xuất, công tác bảo tồn tài nguyên cũng đang đối diện với khủng hoảng nghiêm trọng. Cây thuốc bị đe dọa bởi nhiều yếu tố, bao gồm việc phá rừng do áp lực dân số, khai thác gỗ, xây dựng đường sá và các công trình thủy điện. Khai thác dược liệu tự nhiên quá mức khiến lượng tài nguyên tái sinh không thể bù đắp lượng bị mất đi, trong khi nhu cầu sử dụng cây thuốc không ngừng tăng lên. Hơn nữa, sự thay đổi cơ cấu cây trồng, như việc trồng keo và bạch đàn, cũng góp phần làm suy giảm đa dạng sinh học cây thuốc.

Cùng với việc mất mát tài nguyên vật chất, tri thức bản địa về sử dụng cây thuốc cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng. Tri thức này chủ yếu được truyền miệng, không được tư liệu hóa, ghi chép lại. Sự phá vỡ các nguồn thông tin truyền khẩu, cùng với việc thế hệ trẻ ngày nay ít quan tâm đến việc thừa kế tri thức, đang làm xói mòn di sản văn hóa. Thêm vào đó, tâm lý coi thường tri thức bản địa (có nguồn gốc từ thời kỳ thực dân và được duy trì qua các phương tiện thông tin đại chúng) càng đẩy nhanh quá trình mất mát này.

Phát triển “Ngành Kinh tế thảo dược”

Để hóa giải tình trạng hiện nay, Việt Nam cần phải xem xét lại chiến lược phát triển theo hướng mới, chuyển từ “trồng dược liệu” hay “sản xuất dược liệu” sang kiến tạo “ngành kinh tế thảo dược”. Đây là nền kinh tế dựa trên việc khai thác triệt để ba lợi thế cạnh tranh cốt lõi của quốc gia: đa dạng sinh học, văn hóa bản địa và cảnh quan. Việt Nam sở hữu khoảng 5.100 loài cây thuốc, 450 loài động vật làm thuốc và 70 khoáng vật làm thuốc, cùng với 54 dân tộc, mỗi dân tộc lại có tri thức sử dụng dược liệu và nền văn hóa riêng.

Chiến lược này định hướng phát triển theo chuỗi giá trị, định hướng thị trường, gia tăng giá trị, áp dụng kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Ngành kinh tế thảo dược sẽ tập trung vào phát triển các sản phẩm hàng hóa có lợi cho sức khỏe, không chỉ là thuốc, mà bao gồm đồ ăn, đồ uống, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, hương trị liệu, sản phẩm chăm sóc gia đình, và đặc biệt là các sản phẩm dịch vụ như điểm dừng chân, văn hóa ẩm thực, du lịch sức khỏe (wellness tourism), và du lịch điều trị (medical tourism).

Với cách tiếp cận mới này, Việt Nam nên nhường lại cây “thuốc bắc” cho Trung Quốc và nhường thuốc hóa dược cho phương Tây. Thay vào đó, chúng ta tập trung phát huy lợi thế nguồn dược liệu trong nước, đặc biệt là các loại dược liệu đặc hữu, quý, có giá trị kinh tế cao.

Để thực hiện tầm nhìn này, cần phát triển song song hai hướng chiến lược lớn:

Thứ nhất là phát triển các “Trục văn hóa - thảo dược” (VHTD). Hướng đi này dành cho các tỉnh/địa phương có tiềm năng mạnh về đa dạng sinh học, văn hóa và cảnh quan, như Quảng Ninh, Hà Giang, Lào Cai, Kon Tum, Lâm Đồng, Thanh Hóa, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, v.v.. Việc gắn phát triển sản phẩm hàng hóa từ dược liệu với các sản phẩm dịch vụ về văn hóa và du lịch cho phép địa phương quảng bá sản phẩm và thực hiện chiến lược “xuất khẩu tại chỗ”. Các trục VHTD đang được triển khai bao gồm Thung lũng dược liệu Ngọa Vân - Yên Tử (Quảng Ninh), Trục Văn hóa - thảo dược Việt Bắc, Trục Văn hóa - thảo dược Hoàng Liên Sơn (Lào Cai), Trục Văn hóa

- thảo dược Cao nguyên đá, và Trục Văn hóa - thảo dược Hội An - Trà My.

Thứ hai là phát triển dược liệu nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa theo ba “Trục/nhóm” trọng điểm. Hướng này dành cho các địa phương không hoặc ít có lợi thế cạnh tranh theo hướng VHTD.

  1. Trục/nhóm 1: Cấp Quốc gia (Quốc dược): Gồm dưới 10 loài có quy mô lớn, tác động vào đời sống và thu nhập của nhiều cộng đồng, và đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc gia, tạo ra các hoạt chất (API). Các gợi ý bao gồm Sâm Ngọc Linh (được coi là Quốc bảo), gấc, kim ngân, và các loại tinh dầu như quế, hồi. Việc triển khai cần tập trung nguồn lực quốc gia.
  1. Trục/nhóm 2: Cấp Tỉnh (Tỉnh dược): Các loài có sự phân bố hẹp, giới hạn ở 1-2 tỉnh. Ví dụ điển hình là Trà hoa vàng (Quảng Ninh), táo mèo/sơn tra (Lào Cai, Kon Tum), và ngũ vị tử (Kon Tum). Hướng này đòi hỏi tập trung nguồn lực của tỉnh để phát triển.
  2. Trục/nhóm 3: Cấp Cộng đồng (Cộng đồng dược): Bao gồm các loài hoặc cách sử dụng truyền thống giới hạn trong làng xã, cộng đồng. Ví dụ là các tri thức bản địa như thuốc tắm người Dao, rau ăn làm thuốc người Dao, hay đồ uống người Mường. Lĩnh vực này nên được triển khai theo Chương trình OCOP (Mỗi xã một sản phẩm).

    Các dự án ưu tiên đầu tư phải xây dựng được chuỗi liên kết giá trị trong khai thác bền vững, chế biến và kinh doanh dược liệu, tuân thủ nguyên tắc GACP-WHO (Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc của Tổ chức Y tế thế giới). Đặc biệt, Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển Kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số miền núi (CT 1719) cũng đặt mục tiêu hình thành hệ thống chuỗi giá trị dược liệu quý, khuyến khích nuôi trồng theo chuỗi giá trị và bảo tồn nguồn gen, kết hợp bảo vệ rừng. Các dự án trong CT 1719 ưu tiên phát triển sâm và dược liệu quý tại các địa bàn đặc biệt khó khăn, sử dụng tối thiểu 50% lao động là người dân tộc thiểu số.

    Để hiện thực hóa ngành kinh tế thảo dược, cần có sự điều phối tập trung từ một tổ chức ở Bộ Y tế hoặc Văn phòng Chính phủ, cùng với nguồn lực lớn và đa dạng hóa, liên kết 5 lĩnh vực then chốt: Y tế (nghiên cứu, tiêu chuẩn hóa); Nông nghiệp (trồng trọt, sơ chế); Công

    - Thương mại (quảng bá, xúc tiến); Văn hóa - Du lịch (du lịch sức khỏe, cảnh quan); và Khoa học công nghệ (toàn chuỗi).

    Mục tiêu quốc gia được đặt ra trong Quyết định 376 (2021) là đến năm 2030, tỷ lệ sử dụng dược liệu nguồn gốc trong nước và thuốc dược liệu sẽ tăng thêm ít nhất 30% so với năm 2020. Tầm nhìn đến năm 2045 là Việt Nam có thuốc phát minh từ nguồn dược liệu đặc hữu được nghiên cứu, sản xuất và đăng ký bản quyền, phấn đấu tổng giá trị ngành công nghiệp dược đóng góp vào GDP trên 20 tỷ USD. Việc chuyển đổi từ “trồng cây thuốc” sang kiến tạo ngành kinh tế thảo dược chính là chiếc chìa khóa chiến lược. Nó không chỉ là câu chuyện của nông nghiệp hay y tế, mà là một sự kết hợp giữa Văn hóa, Cảnh quan và Thảo dược, cho phép Việt Nam biến kho tàng di sản thiên nhiên và tri thức bản địa thành sức mạnh kinh tế bền vững. Đây chính là con đường để khai thác lợi thế cạnh tranh duy nhất, và là lời giải cho bài toán phát triển mà Việt Nam đã tìm kiếm bấy lâu.
PGS.TS Trần Văn Ơn
Theo Tạp chí Mỹ phẩm